CỘNG ĐỒNG HƯỚNG NGHIỆP & KHỞI NGHIỆP VIỆT NAM
Nền tảng khoa học khám phá tiềm năng con người
Sinh trắc vân tay là một hệ thống đánh giá khoa học chuyên sâu, được phát triển nhằm khám phá tiềm năng não bộ của con người.
Phương pháp được xây dựng bởi các nhà khoa học và chuyên gia y khoa, dựa trên sự kết hợp của nhiều lĩnh vực: di truyền học, phôi thai học, sinh trắc học vân tay, khoa học thần kinh và tâm lý học trẻ em.
Hệ thống phân tích sự phân bổ tế bào thần kinh và bố trí chức năng não bộ qua dấu vân tay. Bằng quan sát, so sánh và lâm sàng, hệ thống xuất ra báo cáo phân tích về trí thông minh bẩm sinh của mỗi cá nhân.
Bài báo cáo cho thấy tài năng bẩm sinh dựa trên khoa học. Tuy nhiên, kết quả không phản ánh những kỹ năng mà cá nhân đã tiếp thu hoặc lĩnh hội được trong cuộc sống thực tế.
Kết quả không dự đoán tương lai hay đảm bảo thành công. Trí thông minh phụ thuộc lớn vào nỗ lực, môi trường và giáo dục. Quyết định hoàn toàn thuộc về cá nhân và sự đồng hành của gia đình.
Bài báo cáo được thiết kế để mang lại giá trị cho nhiều nhóm đối tượng, với mục đích chung là hiểu toàn diện, tôn trọng sự khác biệt và trang bị phương pháp phát triển phù hợp.
Ngành Sinh trắc học Dấu vân tay tự hào có một bề dày lịch sử nghiên cứu y khoa và sinh học kéo dài hàng thế kỷ.
Nền móng đầu tiên được thiết lập bởi Gouard Bidloo (xuất bản sách), Marcello Malpighi (quan sát qua kính hiển vi), và J.C.A Mayer (phát hiện tính độc nhất vô nhị của vân tay).
Francis Galton (cháu họ Charles Darwin) phát hiện vai trò vân tay trong di truyền và chia làm 3 loại lớn: Arch, Loop, Whorl.
Tiến sĩ Harold Cummins và Charles Midlo khai sinh ngành vân tay học (Dermatoglyphics). Tiến sĩ Cummins được suy tôn là "Cha đẻ của ngành Nghiên cứu Khoa học dấu vân tay".
Giáo sư Wilder Penfield xuất bản tài liệu mô tả mối liên hệ chặt chẽ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.
Noel Jacquin và Beryl B. Hutchinson chứng minh mối liên hệ giữa các loại dấu vân tay và đặc trưng tính cách bẩm sinh.
Giáo sư Roger W. Sperry cùng cộng sự nhận giải Nobel Y học cho công trình nghiên cứu về chức năng của hai bán cầu não và Học thuyết não đôi.
Hiệp hội Nghiên cứu Y học và Hành vi Quốc tế (IBMBS) được thành lập. Vân tay học lan rộng và được nhiều quốc gia lớn ứng dụng vào giáo dục.